Thứ Hai, 15 tháng 2, 2016

HỘI THẢO BÁC HỒ VỚI THƠ ĐƯỜNG LUẬT VIỆT NAM

NHÂN VĂN HỒ CHÍ MINH 
QUA BÀI THƠ "BÁN LỘ THUẬN THỦY PHÓ UNG" 
VIẾT TRONG "NGỤC TRUNG NHẬT KÝ"

   Viết về thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có hàng ngàn tác giả và hàng ngàn bài viết. Nhiều bài viết nhấn mạnh đến ý chí cách mạng của Người và càng nhiều bài viết về nghệ thuật làm thơ chữ Hán của Người. Trong bài viết ngắn này chỉ xin cảm nhận về nhân văn của Người qua một trong hơn một trăm bài thơ viết trong Ngục trung nhật ký.
        Cũng như nhiều người đã nói nhật ký vốn là những ghi chép của tác giả và chỉ dành riêng cho tác giả có quyền đọc nó. Tuy nhiên Ngục trung nhật ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh lại được công bố rộng rãi trước tất cả mọi người trong và ngoài nước. Điều này lẽ ra là trái với quan niệm của cộng đồng, bởi một khi đã là nhật ký thì người viết có thể nói ra những điều tâm sự kín đáo hợp lẽ và sẽ có cả những tâm sự bức xúc đến mức cao độ dễ đưa đến những manh động về một khía cạnh nào đó làm cho hình ảnh của tác giả xấu đi trước những người được biết về nội dung của nhật ký. Phải nói rằng đây là một trường hợp khá đặc biêt. Nó đặc biệt ở chỗ không những đã được công bố rộng rãi, còn được nhiều người dịch giảng, coi như một ấn phẩm quý giá vừa có thể thưởng thức về mặt nghệ thuật vừa có thể học hỏi về mặt tư tưởng của tác giả. Đánh giá về tập nhật ký ta đều nhận ra rằng toàn bộ các bài viết đều có một chủ đề riêng rẽ và càng nhiều hơn các bài đan xen quện chặt vào nhau giữa nội dung và nghệ thuật. Tuy nhiên chúng ta cũng rút ra được một số chủ đề chính đó là những bài tự nói với mình, những bài cảm thông cho một hoàn cảnh nào đó và khá nhiều bài phê phán, cáo buộc một hành vi nào đó của tầng lớp thống trị và sau hết là loạt bài thống kê lại được những gì mình đã trải qua cùng với những cảm nhận của riêng mình trong từng hoàn cảnh. Một đặc điểm rất quen thuộc của tác giả đó là mượn cảnh để tỏ tình và phần nhiều các bài thơ chỉ toàn là cảnh và chẳng tỏ rõ bất kỳ một nhận định nào, nhưng khi đọc xong bài thơ người đọc tự thấy như mở ra trước mắt nhân văn cao đẹp của tác giả. Đây cũng chính là những gì tôi muốn được một lần bày tỏ cảm xúc trước một văn phong trác tuyệt của Người qua tác phẩm Bán lộ thuận thủy phó Ung viết trong Ngục trung nhật ký với nguyên văn chữ Hán và phần phiên âm dưới đây

半路搭船赴邕 
 
 
 


Bán lộ đáp thuyền phó Ung
Thừa chu thuận thủy vãng Ung Ninh
Hĩnh điếu thuyền lan tự giảo hình
Lưỡng ngạn hương thôn trù mật thậm 
Giang tâm ngư phủ điếu thuyền khinh.

Dịch nghĩa 
Đáp thuyền xuôi dòng đi Ung Ninh, 
Chân bị treo lên giàn thuyền như tội hình treo cổ; 
Làng xóm hai bên sông thật là đông đúc, 
Giữa lòng sông, thuyền câu của ông chài lướt nhẹ.

Bản dịch của Nam Trân 
Đáp thuyền thẳng xuống huyện Ung Ninh, 
Lủng lẳng chân treo tựa giảo hình; 
Làng xóm ven sông đông đúc thế, 
Thuyền câu rẽ sóng nhẹ thênh thênh.

Nguồn: Hồ Chí Minh toàn tập (tập 3), 
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000


   Trước hết bài thơ hoàn toàn nằm trong cách viết nhật ký đó là việc kể ra sự việc bị nhà tù của chính quyền Trung Quốc đương thời giải đi Ung Ninh bằng phương tiện giao thông đường thủy thuận theo chiều dòng chảy.

Thừa chu thuận thủy vãng Ung Ninh 

Trong đó kể rõ bản thân bị buộc chân treo trên cao, còn đầu thì hướng xuống dưới tựa như người thắt cổ.

 Hĩnh điếu thuyền lan tự giảo hình

Một chi tiết khác mà người viết nhật ký đã nhìn thấy từ phía xa hai bên bờ sông, nơi con thuyền đi qua thật là đông đúc và trù phú.

Lưỡng ngạn hương thôn trù mật thậm 

Gần hơn nữa là từ giữa dòng sông có một ngư phủ ngồi trên chiếc thuyền câu nhỏ nhẹ.

Giang tâm ngư phủ điếu thuyền khinh.

   Phía sau của lối kể chuyện ta nhận thấy tác giả dùng phép tả chân để thâu tóm toàn bộ cảnh vật. Về cách tả cảnh tác giả đã rất tinh tế nhìn từ xa đến gần. Đây chính là cách nhìn phù hợp của người đang di chuyển đối với những hình ảnh cố định, vì cho dù tốc độ trôi thuận dòng có nhanh đến mấy thì quang cảnh làng xóm vẫn dường như đứng nguyên tại chố.
   Tuy nhiên toàn cảnh dòng sông với đôi bờ vốn chưa đủ để có một bức tranh hoàn chỉnh và khéo thay với một chiếc thuyền câu cùng với sự chuyển động đã tạo ra bóng dáng sự hoạt động của con người, điểm thêm trong bức tranh thủy mạc mà tác giả đã phác họa trong thơ.
Những cái gửi gấm trong thơ lại dần được mở ra qua từng chi tiết đó chính là những điều không xuất hiện mà rất có thể có trong thực tế của hoàn cảnh. Đó chính là sự đau đớn của những vòng dây trói ngày càng thít lại do trọng lượng của cơ thể cứ ghì xuống tạo ra những cơn đau về da thịt. Đó chính là trạng thái xuống máu của cơ thể sống, trái ngược với cấu tạo vốn có của con người làm đầu óc càng ngày càng trĩu xuống bắt ta phải phân tâm vì đau đớn, huống chi từng con sóng vỗ nhao lên hạ xuống tạo ra những rung giật cơ học với gia tốc rơi mới được hình thành. Ta hiểu vì sao không một tiếng kêu đau đớn, không một lời phẫn uất mảy may xuất hiện trước sự đối xử vô nhân tính của các quan chức chính quyền mà cụ thể là những cai tù của họ.
Ngoài ý nghĩa tinh tế và toàn bích về văn học nghệ thuật của một tác phẩm ta như thấy ở đâu đó một nhân sinh quan khác thường của tác giả. Với một tâm niệm nào đó (mà ta chưa biết) đã làm cho tác giả quên đi hoặc nữa là không quan tâm đến nỗi đau xác thịt mà người đó đang phải gánh chịu.  
   Một lối viết pha trò hài hước mà ta quen gặp trong nhiều bài thơ khác cũng đã được phát hiện trong tác phẩm với một từ “vãng” (được dịch là đi) hoàn toàn không nói gì đến sự ép buộc mà chính nhà thơ đang phải chịu đựng. Có cái gì đó tỏ ra rằng đây chỉ như một cuộc đi lại thông thường, hoàn toàn khác với sự thật đó là một cuộc dẫn giải tù nhân cùng với mọi sự khắc nghiệt thường thấy.
   Điều gì đã tạo ra cho Hồ Chí Minh một thói quen hài hước trước mọi bạo ngược, từng xuất hiện trong nhiều bài thơ viết trong Ngục trung nhật ký nếu không phải là biểu hiện của sự lạc quan, sự tự tin vào mục đích chân chính mà bản thân hướng tới và sau cùng là một ý chí vĩ đại vốn đã được thấy trong những tấm gương lãnh tụ của nhiều cuộc cách mạng từng được khắc họa trong văn chương trong nước và trên thế giới từ trước đến nay.
   Trong một luận điểm khác ta có thể nghĩ đến đó là cái gì đã làm cho con người ấy có một tâm hồn lạc quan và một ý chí gang thép đến vậy. Đây chính là việc mà chúng ta phải tìm thấy trong bài thơ. Sự chịu đựng vì không có cách nào khác? Đây cũng là một cái lý, tuy nhiên nếu chúng ta lại đọc ở trong đó được những chi tiết mà nhà thơ nói đến đó là: làng xóm ven sông đông đúc thế (viết theo ý của người dịch khá sát với nội dung). Bằng một câu hỏi đầy sự ngỡ ngàng, ta ngộ ra rằng tác giả đã vui vì sự tốt lành của một miền quê mà dường như trên đường đời tác giả ít có dịp được thấy sau bao năm bôn ba khắp thế giới. Cái mừng vui của một vĩ nhân khi nhận thấy ở đây những người dân, dường như có được một chút yên bình, không có sự tàn phá của chiến tranh tàn khốc.
   Chúng ta biết hai bên bờ sông ở đây là của Trung Quốc. Nhưng với Hồ Chí Minh thì người Trung Quốc hay người Việt Nam và tất cả các dân tộc trên thế giới đều là những con người và đều cần được sống cho ra sống. Có lẽ chính vì thế mà nhiều năm sau, trong Tuyên ngôn độc lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ngày 2 tháng 9 năm 1945, Người đã vận dụng lời lẽ đúng đắn trong bản tuyên ngôn của các nước khác mà khảng định: mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng
   Cũng trong bức tranh mà nhà thơ đã cấu tạo nên còn có thêm một chi tiết khác hẳn với quang cảnh hai bờ sông, đó là một chiếc thuyền câu với người ngư phủ đang ở giữa dòng sông. Đây cũng chính là sự hoạt động đặc trưng cho sự tự do của một cá thể trong sinh cơ lập nghiệp. Có gì đó gợi cho người đọc nghĩ đến mục đích mà người làm thơ hướng đến đã từng lúc chi phối toàn bộ tâm hồn và thể xác, khiến cho mọi sự đau đớn mọi sự bó buộc dường như không tồn tại.
   Những điều vừa nhận định trên đây sẽ có thể chỉ là sự võ đoán vô căn cứ nếu như bài thơ chỉ là của một nhà thơ bình thường khác. Tuy nhiên chúng ta lại hoàn toàn có thể nghĩ tới vì nhiều năm qua đi, nhà thơ, nhà cách mạng Hô Chí Minh đã toàn tâm, toàn ý và biểu lộ qua những trang di chúc với một câu nói hết sức cảm động:  “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn đến tột bậc đó là đồng bào ta, ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành…” Đây cũng chính là sự lôi cuốn của bậc vĩ nhân khi nghĩ đến khát vọng của mình là làm sao để giải phóng cho họ, làm sao để họ có cuộc sống yên vui và cao hơn nữa là tự do cho con người, tự do cho các dân tộc và tự do cho toàn nhân loại.
  Cũng xin mạnh dạn đề cập thêm về sự xuất hiện của con thuyền câu giữa dòng sông khi ấy với một ý tưởng khác dường như tác giả đã ngụ vào đó và tự ví mình với con thuyền câu đó luôn ở giữa dòng và luôn được tự do. Những gì mà thể xác trải qua vốn chẳng là gì cả và không cần phải nói đến trong sự cảm nhận của tác giả trước hoàn cảnh hiện tại. Từ đó bài thơ có cái tự nhiên của một bức tranh phong cảnh vốn được cho là đẹp trên một vùng quê và cảnh đó không có sự bó buộc nào về những nhận định vốn không cần bày tỏ. Điều này cho thấy ý thơ (có thể khác với nhận định của người viết) hoàn toàn nằm ngoài văn bản phù hợp với những gì là tinh tế của thơ chữ Hán đó là Ý tại ngôn ngoại, được sử dụng nhiều hơn so với thể thơ khác.
   Điều mà chúng ta nhận ra văn chương của Chủ tịch Hồ Chí Minh đích thực là văn chương tuyệt phẩm mang tính nghệ thuật cao và nhất là không thiếu tích cách mạng mà Người luôn gửi gấm trong mỗi câu mỗi chữ trong thơ chữ Hán nói chung và trong Ngục trung nhật ký nói riêng. Thêm một lần khảng định những bài thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh trước hết là thơ của một nhà thơ uyên bác cùng với sự khảng định đồng nhất về một nhà cách mạng Hồ Chí Minh với ý chí kiên định cách mạng vĩ đại nhất trong mọi thời đại. Đây cũng chính là nhân văn của nhà thơ, nhà cách mạng Hồ Chí Minh mà người viết mong muốn tìm được trong Ngục trung nhật ký. 
                                       Lê Trọng Hồng
                     Ủy viên BCH CLB thơ Lục Đầu Giang - Hải Dương

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét